Tăng nguồn thu nhập từ nuôi thủy sản ở rừng ngập mặn

24 lượt xem 8 phút đọc

Rừng ngập mặn đóng vai trò chức năng phòng hộ, chống sạt lở ven biển, cân bằng môi trường thiên nhiên,… Không chỉ vậy, thủy sản ở rừng ngập mặn cũng là nguồn lợi kinh tế mà người dân đã biết tận dụng để đem lại nguồn thu nhập. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu một số loài thủy sản ở rừng ngập mặn có giá trị và kỹ thuật nuôi trồng chúng qua bài viết dưới đây nhé!

Một số loài thủy sản ở rừng ngập mặn có giá trị kinh tế cao

Rừng ngập mặn là môi trường sống, là nơi sinh sản tự nhiên của các loài thủy sản, có vai trò cung cấp thức ăn, nơi cứ trú, nuôi dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loại: tôm, cua, cá, các loại nhuyễn thể. Nguồn thức ăn của của các loài thủy sản ở rừng ngập mặn có thể đến các vật rụng như: lá, cành, chồi, hoa, quả… của cây, chúng được phân hủy thành mùn bã hữu cơ. Ngoài ra, gốc và rễ cây cũng là nơi trú ngụ của nhiều loài thủy sinh vật. Một số loài tiêu biểu thủy sản ở rừng ngập mặn tiêu biểu như:

1. Tôm sú

Tôm sú thuộc lớp giáp xác, là loài ăn tạp, ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, các mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ. Tôm sú là loài lớn nhanh, có thể đạt kích thước thương phẩm từ 30 – 50 con/kg sau 3 – 4 tháng nuôi. Đây là nguồn thủy sản ở rừng ngập mặn có giá trị xuất khẩu dẫn đầu.

Tăng nguồn thu nhập từ nuôi thủy sản ở rừng ngập mặn 1

Tôm sú là loài đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân
 

2. Cua xanh

Cua biển là loài phân bố rộng, nhiệt độ thích hợp nhất từ 25 – 30°C. Thích hợp với sông có nước chảy nhẹ. Tính ăn của cua biến đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn ấu trùng cua thích ăn thực vật và động vật phù du. Cua con chuyển dần sang ăn tạp như: rong to, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay xác chết động vật. Cua con 2 – 7cm chủ yếu ăn giáp xác, cua 7 – 13cm thích ăn nhuyễn thể, cua lớn hơn thường ăn cua nhỏ, cá…

3. Sò lông, sò huyết, vạng (nghêu)

Rừng ngập mặn cũng cung cấp thức ăn và giống cho nghề nuôi sò lông, sò huyết, vạng (nghêu). Đây là nguồn hải sản có giá trị xuất khẩu đứng thứ hai sau tôm. Rừng ngập mặn cung cấp thức ăn xác hữu cơ thực vật cho sò, chúng đạt kích thước 6 – 15mm vào các tháng 2 và 3. Nếu đánh bắt tự nhiên trong vùng rừng ngập mặn, năng suất của sò có thể đạt tới 500 – 750 kg/ha/năm.

4. Cá đối

Cá đối là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ. Ngoài ra, chúng cũng có thể ăn thêm thức ăn nhân tạo. Sau 1 năm sinh trưởng, cá đối có thể đạt trọng lượng từ 600 – 800g/con tùy theo kích cơ cá thả nuôi.

Kỹ thuật nuôi thủy sản ở rừng ngập mặn

1. Lựa chọn và chuẩn bị vùng nuôi

Diện tích vùng nuôi tốt nhất là từ 10.000 – 20.000m², dùng lưới và cọc tre để rào chắn kỹ lại khu vực nuôi. Trong vùng nuôi có các hệ thống mương sâu từ 1 – 1,2m để tôm, cua, cá trú ẩn, việc thay nước dựa hoàn toàn vào thủy triều. Thường xuyên kiểm tra, tu sửa cọc tre hoặc làm mới nếu đã quá cũ. Đối với vùng nuôi có thể giữ nước thì tiến hành diệt tôm cá tạp sử dụng saponin hoặc hạt mát. Đối với vùng nuôi mở hoàn toàn thì tiến hành bắt hết tôm, cua, cá của vụ nuôi cũ bằng các phương pháp thủ công. Tiến hành bón vôi với lượng 3 – 5 kg/100m² cho vùng nuôi. Kiểm tra các yếu tố môi trường, nếu thấy phù hợp thì tiến hành thả giống.

Tăng nguồn thu nhập từ nuôi thủy sản ở rừng ngập mặn 2
Cần áp dụng kỹ thuật nuôi trồng và chăm sóc thủy sản ở rừng ngập mặn

2. Lựa chọn và thả giống

Lựa chọn cá khỏe mạnh đều kích cỡ, không bị xây xát tróc vảy, hoạt động nhanh, nhìn bên ngoài màu sắc tươi sáng, không bị dị hình, dị tật. Tôm, cua đều kích cỡ, màu sắc tươi sáng, không dị hình, dị tật.

Nên thả giống vào lúc sáng sớm hay chiều mát, không nên thả giống khi trời mưa hoặc gió mùa đông bắc. Trước khi thả ngâm các túi đựng giống dưới nước từ 10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ sau đó mở túi, từ từ thả cá giống hoặc tôm giống xuống vùng nuôi. Đối với thả cua, nên thả từ từ ở nhiều điểm, chọn những điểm có đáy sạch để thả, không nên thả tập trung một điểm nhằm hạn chế cua ăn lẫn nhau khi lột xác.

3. Chăm sóc và quản lý thủy sản ở rừng ngập mặn

3.1. Thức ăn và cách cho ăn

Đối với cua, tôm sú sử dụng thức ăn công nghiệp có độ đạm > 30%, với cá đội sử dụng thức ăn viên nổi công nghiệp dành cho cá (thức ăn có độ đạm 28 – 30%). Ngoài ra người nuôi có thể tận dụng thêm nguồn cá tạp và phế phụ phẩm nông nghiệp để chế biến thức ăn cho chúng. Lượng thức ăn hàng ngày từ 2 – 4% trọng lượng tổng đàn nuôi, chỉ cho thức ăn bổ sung một phần nhu cầu cho tôm, cua, cá còn lại sẽ tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong rừng ngập mặn.

Thức ăn cho tôm, của được rải đều trong vùng nuôi, 1 – 2 lần/ngày. Thức ăn cho cá đối cần bố trí khung để cho cá ăn tập trung, cho ăn vào buổi sáng nhiều hơn buổi chiều tối, cần tạo phản xạ cho cá bằng cách tạo tiếng động để cá tập trung, cho ăn 1 – 2 lần/ngày. Lưu ý khi cho ăn, thức ăn phải đảm bảo chất lượng và số lượng, cho ăn 1 – 2 lần/ngày và cố định địa điểm, thời gian. Tăng lượng thức ăn khi thấy vật nuôi ăn hết nhanh và giảm lượng thức ăn khi thấy lượng thức ăn còn dư thừa của ngày hôm trước. Cho cá ăn nhiều vào ngày thời tiết đẹp và cho cá ăn ít vào ngày thời tiết xấu hoặc trước khi mưa.

3.2. Quản lý vùng nuôi

Thường xuyên kiểm tra hệ thống lưới, cọc trẻ để sữa chưa kịp thời, tránh bị thất thoát tôm, cua, cá.

Thay nước theo chế độ thủy triều.

Bón vôi định kỳ 15 ngày với lượng từ 0,5 – 1 kg/100m², vôi được hòa với nước.

Định kỳ 15 ngày kiểm tra trọng lượng tôm, cua, cá nuôi để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hơpk

Đảm bảo mực nước trong các mương có độ sâu từ 1 – 1,2m

Không được chặt phá hoặc có các hành động khác làm ảnh hưởng đến rừng ngập mặn.

3.3. Thu hoạch

Sau khoảng 3 – 4 tháng nuôi tiến hành thu hoạch tôm, đạt kích cỡ 45 con/kg, cua đạt kích cỡ 4 con/kg thì tiến hành thu tỉa. Cá đối sau 5 – 6 tháng nuôi đạt kích cỡ khoảng 3 con/kg thì tiến hành thu hoạch.

Thu tôm, cua, cá theo hình thức thu tỉa tôm, cua, cá lớn và tuổi tiếp tôm, cua, cá nhỏ

Có thể tiến hành thu tỉa thả bù thêm giống để có sản phẩm quanh năm, thu hết toàn bộ thủy sản ở rừng ngập mặn đã nuôi trước mùa mưa lũ. Để tránh cá bị xuất huyết ngoài da, cá sau khi thu hoạch cần cho ngay vào nước đá lạnh, cá khi thu hoạch chưa bán mà giữ lại thì nên cho vào lồng và dìm hẳn dưới nước.

Hy vọng bài viết trên đã phần nào cung cấp cho bạn được kiến thức về một số loài thủy sản ở rừng ngập mặn cùng kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc chúng để áp dụng vào thực tế, đem lại nguồn thu nhập lớn.

Ứng dụng trong đời sống